Menu
0
Trang chủ » Tư vấn pháp luật khác»Tư vấn luật nhà ở, hộ tịch» Một số điểm mới hướng dẫn thực hiện Luật hộ tịch

Một số điểm mới hướng dẫn thực hiện Luật hộ tịch

Tư vấn luật nhà ở, hộ tịch

1. Ông bà không cần công chứng, chứng thực giấy ủy quyền khi khai sinh cho cháu

Theo đó, trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.

Điều 2 Thông tư 04/2020 quy định: trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.

2. Không đặt tên con quá dài, khó sử dụng

Điều 6 Thông tư 04/2020 quy định việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

3. Giá trị sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Khoản 1 Điều 23 Nghị định 123/2015 thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

Nhưng khoản 2 Điều 12 Thông tư 04/2020 quy định chi tiết hơn: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.

4. Hướng dẫn chi tiết việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Điều 11 Thông tư 04/2020 hướng dẫn cụ thể, việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 31 Nghị định 123/2015:

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn.

Trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh làm rõ.

Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Phòng Tư pháp làm việc trực tiếp với các bên để làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn.

5. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con đơn giản hơn

Điều 14 Thông tư 04/2020 hướng dẫn cụ thể về chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật Hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

- Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

- Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2020, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

Hiện hành, ngoài văn bản cam đoan có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng, còn phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

6. Hướng dẫn cách ghi tuổi sang năm sinh khi cấp bản sao trích lục hộ tịch

Khoản 2 Điều 23 Thông tư 04/2020 đã hướng dẫn cụ thể cách ghi tuổi sang năm sinh khi cấp bản sao trích lục hộ tịch trong trường hợp Sổ hộ tịch trước đây ghi tuổi như sau:

Trường hợp Sổ hộ tịch trước đây ghi tuổi thì cơ quan đăng ký hộ tịch xác định năm sinh tương ứng ghi vào mục Ghi chú của Sổ hộ tịch, sau đó cấp bản sao trích lục hộ tịch.

Ví dụ: Sổ đăng ký khai sinh năm 1975 ghi tuổi của cha là 25 tuổi, tuổi của mẹ là 23 tuổi thì xác định năm sinh của cha: 1950, năm sinh của mẹ: 1952.

Tại Thông tư 15/2015/TT-BTP không có quy định về nội dung này.

7. Bổ sung quy định về đăng ký khai tử cho người đã chết từ lâu

So với Thông tư 15/2015/TT-BTP thì Thông tư 04/2020/TT-BTP đã bổ sung thêm nội dung hướng dẫn về việc đăng ký khai tử cho người đã chết từ lâu tại Điều 13 như sau:

Việc đăng ký khai tử được thực hiện theo quy định tại Mục 7 Chương II Luật hộ tịch và hướng dẫn sau đây:

1. Trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết.

2. Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.

8. Bổ sung quy định về cải chính hộ tịch

Điều 17 Thông tư 04/2020 quy định: Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.

Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.

Việc cải chính nội dung đăng ký khai tử thuộc thẩm quyền của cơ quan đã đăng ký khai tử, theo đề nghị của người có trách nhiệm đăng ký khai tử quy định tại Điều 33 Luật hộ tịch.

Liên hệ hotline 0932.575030 để được tư vấn cụ thể.

Luật sư nhà ở & hộ tịch Đà Nẵng

icon1 English

 

QUÝ KHÁCH CHỈ CẦN GỌI 0914 500 518 - 0932 575 030

 

Gởi tin nhắn đến chúng tôi